__Chào mừng bạn đến với Otaku Family__
Đại Gia Đình Otaku ra đời với mong muốn sẽ là nơi để mọi người quy tụ
cùng nhau học hỏi, thư giãn và chia sẻ mọi nỗi buồn vui trong cuộc sống,
___Chúc các bạn luôn vui vẻ nhe!_____

You are not connected. Please login or register

Dốc sinh tồn 1 Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:25 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
Agatha Christie
Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie



Người dịch: Dương Linh


Đánh máy: HanAn

Tình trạng: Full
Nguyên tác: MUDER IN MESOPOTAMIE
“Tặng nhiều bạn của tôi làm việc khảo cổ tại Iraq và Syria. A.C.”



Nguồn: vnthuquan
LỜI NÓI ĐẦU

Những sự việc kể trong chuyện này xẩy ra cách đây đã bốn năm, và tôi thấy nó cần được thuật lại một cách thật trung thực, khách quan. Thiên hạ đồn thổi rất nhiều chuyện vô lý chung quanh vấn đề này; báo chí Mỹ hồi ấy cũng tung ra nhiều thông tin sai lạc.


Tốt nhất là bản tường thuật này nên do một người trong cuộc viết, một người mà ta không thể nghi ngờ là có thiên kiến với ai. Tôi liền khuyên cô Leatheran nên đảm nhận trách nhiệm này. Theo tôi, cô đúng là người có thể làm tròn nhiệm vụ. Cô có kiến thức chuyên môn tốt, lại không hề quen biết trước các thành viên của đoàn khảo cổ trường đại học Pitlstown hoạt động tại Iraq. Thông minh và có óc quan sát, cô là một nhân chứng rất quý, ở ngay tại chỗ.


Cô Leatheran ngần ngại mãi mới chịu nhận lời, và đến khi viết xong, phải hối thúc mãi cô mới đưa tôi xem bản thảo. Sau này tôi mới biết sự do dự ấy một phần là do trong đó có một số chỗ cô đã nhận xét về Sheila, con gái tôi. Tôi vội làm cô yên tâm ngay: thật vậy, thời nay, bố mẹ thường quá nuông chiều con cái, và con cái thì không ngại chỉ trích bố mẹ. Mặt khác, cô rất khiêm tốn khi nói về văn phong của mình, cô yêu cầu tôi sửa giùm những sai sót về chính tả và ngữ pháp. Nhưng tôi đã không chữa một chữ nào. Theo tôi, cô Leatheran viết rất có hồn, có bản sắc. Chương này, cô gọi trống không nhà thám tử người Bỉ là “Poirot”, chương sau lại viết “Ông Poirot”, sự thay đổi ấy là rất hay, hàm chứa ý nghĩa. Đó là vì dù sao, cô cũng được giáo dục một cách cặn kẽ (thật vậy, chớ quên là các nữ y tá ở nước Anh luôn tuân thủ nghiêm túc nội quy).


Tôi chỉ tự cho phép mình một điều duy nhất, là viết chương mở đầu, dựa vào bức thư mà một cô bạn của Leatheran vui lòng chuyển cho tôi. Thư này sẽ giúp bạn đọc có một ý niệm về tính cách của tác giả thiên truyện này.

Dốc sinh tồn 2 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:26 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
CHƯƠNG MỞ ĐẦU


 

  
  Trong khách sạn Tigris Place ở Baghdad, một cô y tá ngồi viết thư. Bút chạy sột soạt trên giấy:
“… Đó là tất cả tin tức mình kể lần này. Đúng là biết thêm một xứ sở khác trên thế giới cũng thú, mặc dù mình vẫn thích nước Anh hơn tất cả mọi nước khác. Cậu không thể hình dung vẻ bẩn thỉu, kinh tởm của thành phố Baghdad. Đâu rồi cái thần tiên của “Một nghìn một đêm lẻ”! Có lẽ ở phía bờ sông còn khá, nhưng bên trong thành phố thì rất chán… chẳng có cửa hàng nào đẹp. Thiếu tá Kelsey dẫn mình đi thăm các quầy tạp hóa trông cũng lạ mắt… song toàn là những đồ linh tinh, hổ lốn, đã thế tiếng gõ của thợ gò làm xoong chảo vang lên đến nhức óc. Thú thật là mình không chắc đã dám dùng những xoong ấy, vì sợ chất gỉ đồng khi đun nấu bằng những dụng cụ kim loại đó.
Mình sẽ viết thư báo tin sau về kết quả việc bác sĩ Reilly giới thiệu mình vào chỗ làm ấy. Cái ông người Mỹ này hiện đang ở Baghdad, và chiều nay sẽ đến gặp mình. Công việc là trông nom vợ ông ta… Theo bác sĩ Reilly, bà ta hay lên cơn “khủng hoảng”… Bác sĩ không nói gì thêm, nhưng bạn biết đấy, ta hiểu thông thường từ đó có nghĩa gì (Hy vọng là bà ta chưa đau nghiêm trọng đến mức điên loạn). Dĩ nhiên, bác sĩ Reilly rất kín tiếng, song nhìn trong mắt ông ấy mình biết ngay. Chắc cậu hiểu mình. Cái ông giáo sư Leidner ấy là một nhà khảo cổ đang tiến hành những cuộc khai quật ở sa mạc, phục vụ một bảo tàng của Mỹ.
Bạn thân mến, hôm nay mình kết thúc ở đây, gửi cậu những lời chúc thân yêu nhất.
Amy Leatheran”
Sau khi bỏ thư vào phong bì, nàng đề địa chỉ gửi cho xơ Curshaw, bệnh viện Sant Christophe ở London.
Nàng vừa đậy nắp bút thì một người hầu bản xứ tiến đến.
- Có một quý ông muốn gặp cô. Ông giáo sư Leidner.
Cô y tá quay lại, thấy một người tầm thước, vai hơi xuôi, râu màu nâu và đôi mắt mệt mỏi.
Còn giáo sư Leidner thấy trước mặt mình một phụ nữ ba mươi lăm tuổi, vẻ đầy tự tin. Mớ tóc màu hạt dẻ trùm lên một khuôn mặt vui tươi; đôi mắt xanh như cười cười. Một con người khỏe mạnh, niềm nở, thông minh và tháo vát, tóm lại đúng là y tá lý tưởng cho người bệnh tâm thần.
Vị khách nghĩ bụng: “Cô Leatheran chính là người mình đang cần”.

Dốc sinh tồn 3 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:27 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
CHƯƠNG 2


AMY LEATHERAN


 Tôi không có tham vọng viết văn, sở dĩ thực hiện thiên truyện này chỉ là do bác sĩ Reilly thúc hối, động viên. Một khi bác sĩ Reilly yêu cầu điều gì, làm sao tôi có thể từ chối.


- Ồ! Không! Tôi không phải nhà văn, không được đâu.


- Đừng nói lăng nhăng. Cô cứ viết như hằng ngày cô vẫn ghi chép y bạ cho bệnh nhân.


Thôi được, thế cũng là một cách giải quyết khó khăn.


Bác sĩ Reilly nói rất cần có một bản tường thuật vụ việc xảy ra ở Tell Yarimjah, thật đơn giản và xác thực.


- Nếu do một người trong đoàn khảo cổ viết, sẽ không ai tin, cho là có sự thiên lệch.


Điều đó quả là đúng. Dù được chứng kiến, song ít nhất tôi là người đứng ngoài.


- Vậy sao bác sĩ không viết? – tôi hỏi.


- Tôi không ở tại chỗ, không như cô - ông thở dài - Hơn nữa, con gái tôi phản đối.


Ông luôn chịu khuất phục ý muốn của con gái, điều đó làm tôi khó hiểu. Tôi định nói ra song lại thôi.


- Hừm!... Nếu ông đã muốn, tôi sẽ liều xem sao.


- Xin rất hoan nghênh.


- Cái khó là không biết nên bắt đầu từ đâu.


- Rất đơn giản: bắt đầu từ chỗ bắt đầu, và tiếp tục cho đến hết, thế là xong.


- Nhưng tôi không hề biết chuyện xảy ra từ lúc nào và như thế nào.


- Cô này, cái khó của sự bắt đầu là không nghĩa lý gì so với cái khó phải chấm hết ở chỗ nào. Đó là điều tôi thường cảm thấy khi phát biểu trước mọi người. Có người đã phải kéo áo tôi để bắt tôi ngồi xuống.


- Ồ, bác sĩ cứ đùa!


- Tôi nói rất nghiêm chỉnh. Vậy là, nhất định rồi chứ?


Tôi phân vân một điều nữa. Sau một phút do dự, tôi đáp:


- Tôi e… khi kể sẽ không tránh khỏi có lúc cảm tính.


- Càng hay! Càng hay! Hãy giữ bản sắc của mình. Cứ bạo dạn, sắc sảo mà nhận xét, cứ kể các sự việc theo con mắt của cô. Rồi sau đó, khi đọc lại, ta vẫn có thể xóa bỏ những đoạn nào quá đáng. Nào, hãy bắt tay vào việc! Với trí óc điềm tĩnh của cô, tôi tin sẽ có một bản tường thuật thông minh.


Số phận thế là đã định, tôi hứa sẽ cố gắng làm tốt.


Trước hết, có lẽ tôi phải tự giới thiệu. Tôi ba mươi hai tuổi, tên Amy Leatheran. Tôi đã hoàn thành đợt thực tập y tá tại bệnh viện Saint Christophe, London. Sau, tôi làm việc hai năm ở một nhà hộ sinh. Rồi bốn năm công tác trong nhà an dưỡng của cô Bendix, quận Devon. Rồi tôi đi Iraq theo bà Kelsey. Chả là tôi chăm sóc bà ta từ lúc bà sinh con, nay bà cùng chồng đi Baghdad, ở đó bà đã mượn sẵn một bà vú để trông con. Song vốn người yếu đuối, bà cứ lo cuống lên về chuyện phải bế con đi xa. Bởi thế thiếu tá Kelsey quyết định tôi đi theo họ để trông nom đứa bé trong lúc đi đường. Họ sẽ chịu tiền tầu để sau đó tôi trở về London.


Khỏi cần đi sâu mô tả gia đình Kelsey: đứa trẻ rất kháu, bà mẹ thì hay lo vô cớ, nhưng đối xử với tôi rất tốt. Chuyến đi rất thích: đây là lần đầu tôi đi xa bằng tầu biển.


Cùng đi trên tầu có bác sĩ Reilly. Ông hay nói chuyện vui, thỉnh thoảng lại trêu chọc tôi. Tóc đen, mặt dài, ông là bác sĩ ngoại khoa ở bệnh viện dân y Hassanieh, cách Baghdad ngày rưỡi đường.


Tôi ở Baghdad được một tuần, và một hôm gặp ông ngoài phố. Ông hỏi thăm bao giờ thì tôi rời nhà thiếu tá Kelsey, vì ông biết bà Kelsey đã có bà vú trước đây làm với vợ chồng ông Wright. Hai ông bà trở về Anh, bà vú sang phục vụ nhà Kelsey.


Bác sĩ Reilly hỏi tôi có dự định gì không:


- Vì tôi đang có một chỗ làm, muốn giới thiệu cô.


- Chăm sóc người ốm?


Nét mặt ông trở nên nghiêm trang.


- Gọi là người ốm không hẳn đúng. Đó là một bà thỉnh thoảng lại có những cơn… khủng hoảng tinh thần.


- Ồ!


(Ta biết những từ ấy thường có nghĩa là: nghiện rượu hoặc ma túy).


Bác sĩ Reilly chỉ nói đến thế. Rồi kể tiếp:


- Ông chồng là người Mỹ, nói cho đúng là người Mỹ gốc Thụy Điển, và đang cầm đầu một đoàn khảo cổ học đi khai quật rất lớn.


Ông giải thích đoàn đang tiến hành nghiên cứu ở nơi xưa kia là một thành phố lớn. Đại bản doanh đóng gần Hassanieh, ở một nơi vắng vẻ, và giáo sư Leidner gần đây tỏ ra lo lắng về sức khỏe bà vợ.


- Ông ấy không nói rõ, nhưng hình như bà Leidner thường có những cơn hoảng loạn tinh thần.


- Họ cứ để bà ấy suốt ngày với những gia nhân bản xứ? – Tôi hỏi.


- Ồ, không. Trong đoàn toàn người da trắng, bảy hoặc tám người. Có lẽ bà không ở một mình trong nhà đâu, nhưng đôi lúc hoảng loạn khá kỳ lạ. Ông Leidner bận trăm công nghìn việc, nhưng rất yêu vợ và rất khổ tâm thấy vợ bị như thế. Nếu có người nào đứng đắn, có khả năng chăm nom riêng bà thì ông ấy yên tâm hơn.


- Bản thân bà ta nói gì với ông?


- Bà ta chưa bao giờ hỏi ý kiến tôi, có lẽ bà không thích tôi.


Đích thân Leidner đến gặp tôi nói chuyện này. Cô định thế nào? Dù sao cũng có dịp biết thêm đất nước này trước khi về Anh. Công việc khai quật còn hai tháng nữa kết thúc, đến cho biết cũng có cái hay.


Sau một lát suy nghĩ, tôi đáp:


- Thì cứ thử, có mất gì đâu?


- Hoan hô! – bác sĩ Reilly reo lên - Leidner hiện đang ở Baghdad.


Ngay chiều hôm đó, giáo sư đến khách sạn gặp tôi. Một ông trung niên, cử chỉ rụt rè, bứt rứt. Từ con người đó toát lên sự hiền hậu đồng thời với một vẻ yếu đuối.


Ông tỏ ra rất yêu vợ, nhưng khi được hỏi về bệnh tình bà Leidner, ông lại lảng tránh, nói chung chung. Đưa tay giật giật râu – sau này tôi nhận ra đó là thói quen đã thành tật – ông đáp:


- Cô thông cảm, nhà tôi đang trải qua một cơn khủng hoảng làm tôi lo lắng.


- Sức khỏe thể chất bà nhà thế nào?


- Bề ngoài thì tốt, không có gì bất thường, nhưng… bà ấy tưởng tượng ra lắm thứ.


- Những thứ như thế nào? – tôi hỏi.


Ông tránh trả lời thẳng, nói nhỏ:


- Việc nhỏ hay làm ra to. Theo tôi, những lo sợ của bà ấy chẳng có căn cứ gì.


- Thưa ông, bà nhà lo sợ gì?


Ông trả lời chung chung:


- Toàn các loại hoảng loạn thần kinh ấy mà.


Tôi dám cuộc mười ăn một lại là chuyện ma túy. Và, giống như nhiều ông chồng khác, ông Leidner không hề hay biết. Họ chỉ ngồi lo lắng tại sao các bà vợ hay nóng nảy, cáu bẳn.


Tôi ngỏ ý lo ngại liệu bà Leidner có chấp nhận tôi không.


Mặt giáo sư tươi lên:


- Có, có. Thú thật mới đầu tôi cũng ngạc nhiên một cách dễ chịu. Bà ấy đồng ý ngay, bảo như vậy bà sẽ an toàn hơn.


Cái từ “an toàn” làm tôi hơi lạ. Tôi bắt đầu nghĩ là bà Leidner mắc một căn bệnh tâm thần.


Giáo sư Leidner nói tiếp với vẻ vui mừng thật sự:


- Tôi tin là cô sẽ rất hợp với vợ tôi. Sự có mặt của cô an ủi bà ấy rất nhiều. Ngay khi nhìn thấy cô, tôi đã có cảm giác ấy. Rõ ràng cô mà nhận chăm sóc Louise thì không ai bằng.


- Thưa giáo sư, dù sao tôi cũng xin thử. Hy vọng tôi sẽ giúp được bà Leidner. Hay là sống cạnh dân bản xứ và người da màu, nên bà sinh sợ hãi?


- Không! – ông Leidner kêu lên, có lẽ cho giả thiết của tôi là ngộ nghĩnh. – Vợ tôi rất quý người Arập vì tính giản dị, vui vẻ tự nhiên của họ. Đây là lần thứ hai bà ấy đến xứ này. Chúng tôi lấy nhau chưa đầy hai năm, nhưng bà ấy đã nói được tiếng Arập đủ cho người ta hiểu.


Sau một lát im lặng, tôi lại thử thăm dò lần nữa:


- Thưa ông, ông có lời giải thích gì về những sợ hãi vô cớ của bà nhà?


Ông ngập ngừng, rồi nói rành rọt:


- Tôi hy vọng… tôi muốn… để bà ấy tự nói với cô.


Tôi không khai thác được gì hơn.

Dốc sinh tồn 4 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:28 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
Chương 3
NHỮNG LỜI BÀN TÁN



 



Đã quyết định là tôi sẽ tới Tell Yarimjah vào tuần sau. Bà Kelsey khỏi phải lo chuyện về nước của tôi.


Trong khi chờ đợi ở nhà bà Kelsey, tôi nghe được một vài người bàn tán về đoàn khảo cổ Leidner. Một sĩ quan kỵ binh là bạn của bà Kelsey, bặm môi vì ngạc nhiên, kêu to:


- Nàng Louise xinh đẹp! Lại một trò nữa của bà ta.


Viên sĩ quan quay lại phía tôi:


- Cô biết không, chúng tôi mệnh danh bà là Nàng Louise xinh đẹp.


- Vậy bà ấy đẹp lắm? – tôi hỏi.


- Ít nhất là bà ta tự cho như vậy. Cứ tưởng mình là thần Vệ nữ hiện hình.


Bà Kelsey xen vào:


- Hãy lịch sự một chút, anh John! Anh thừa biết đâu chỉ mình bà nghĩ như thế. Khối ông chết mê chết mệt đấy thôi.


- Chị nói đúng. Tôi cũng công nhận bà ta có sức quyến rũ nhất định.


- Chính anh cũng suýt mất hồn vì bà ấy, phải không? - Bà Kelsey mỉm cười tinh quái.


Viên sĩ quan trẻ đỏ mặt, thái độ tỏ ra lúng túng:


- Phải công nhận bà ta rất có duyên. Còn ông chồng Leidner thì mê vợ đến sát đất… và tất nhiên, mọi người trong đoàn khảo cổ đều làm như thế với vợ của thủ trưởng.


- Họ có bao nhiêu người tất cả?


- Người đủ các quốc tịch. Một kiến trúc sư Anh, một giáo sĩ Pháp lo việc đọc những văn bản cổ. Còn cô Johnson người Anh, chuyên cọ rửa các vật cổ trong phòng thí nghiệm, rồi một ông nhiếp ảnh người Mỹ. Và vợ chồng Mercado… thì chẳng biết là người nước nào! Cô vợ còn rất trẻ, có dáng bộ uốn éo như rắn. Cô ta rất ghét nàng Louise xinh đẹp! Cuối cùng… là hai thanh niên. Một tập hợp con người hổ lốn, nhưng nói chung thì cũng được. Pennyman, ông đồng ý thế không?


John quay lại hỏi một người đứng tuổi ngồi trong góc, đang mân mê dây mục kỉnh. Nghe hỏi, ông ta giật mình nhìn lên.


- Ờ, ờ, rất được, đều dễ thương. Nhưng đó là nói riêng rẽ từng người một. Tôi đồng ý với ông rằng Mercado là một gã buồn cười.


- Ông ta để râu kiểu rất lố bịch – bà Kelsey nói chen.


Thiếu tá Pennyman coi như không nghe thấy, nói tiếp:


- Hai chàng thanh niên thì rất dễ có cảm tình. Chàng người Mỹ kín tiếng, chàng người Anh lại nói luôn mồm. Thông thường, thì ngược lại mới phải. Leidner là một chàng trai tuyệt vời, khiêm tốn và giản dị! Tôi nhắc lại, nói riêng từng người đều rất dễ thương, song không hiểu tôi có nghĩ sai không, chứ lần vừa rồi đến thăm họ, tôi có cảm giác xảy ra chuyện gì bất thường. Không ai có vẻ tự nhiên, thỏa mái. Không khí căng thẳng…


Hơi đỏ mặt như mỗi lần phát biểu ý kiến, tôi thử đưa ra lời giải thích:


- Có lẽ vẫn ngần ấy người tiếp xúc mãi với nhau, làm thần kinh căng thẳng. Trong bệnh viện tôi đã có kinh nghiệm.


- Đúng, - thiếu tá Kelsey đồng tình - Song đây mới là mùa bắt đầu khai quật, chưa đủ thời gian để phát sinh sự căng thẳng.


- Một đoàn khảo cổ cũng giống như cuộc sống trại lính thu nhỏ. Cũng có bè phái, kèn cựa, ghen tị - thiếu tá Pennyman nói.


- Năm nay, có thêm vài người mới - thiếu tá Kelsey nhận xét.


Viên sĩ quan kỵ binh tính trên đầu ngón tay:


- Xem nào. Có Coleman và Reiter là người mới. Emmott và vợ chồng Mercado năm ngoái không tham gia. Cha Laviguy cũng là người mới chiêu mộ, để thế chỗ giáo sư Byrd không theo đoàn được vì lý do sức khỏe. Carey là người cũ. Hắn và cô Johnson là thành viên của đoàn ngay từ đầu, tức đã được năm năm.


Thiếu tá Kelsey nói:


- Tôi cứ tưởng họ hòa hợp với nhau lắm, như một đại gia đình hạnh phúc. Xét về bản chất con người, đó là điều lạ, phải không cô Leatheran?


- Hờ… không biết ông nói vậy có đúng không. Trong bệnh viện, tôi thấy người ta kèn cựa nhau về những chuyện vặt vãnh.


- Phải, sống với nhau lâu quá, con người sinh ra nhỏ nhen – thiếu tá Pennyman tiếp. – Nhưng trong chuyện này, tôi thấy có điều gì nghiêm trọng hơn. Leidner là người rất hiền, khiêm tốn, xử thế khôn khéo nên vẫn giữ được đoàn kết trong đoàn. Vậy mà hôm nọ, tôi đến, thấy có không khí không thỏa mái.


Bà Kelsey bật cười to:


- Ông không biết nguyên nhân ư? Đập vào mắt thế mà.


- Bà định nói gì?


- Tất nhiên, tôi nói bà Leidner.


- Thôi đi bà, hãy nghĩ mà xem: bà ấy rất đáng yêu, không gây sự với ai.


- Nào tôi có bảo bà ấy thích gây sự đâu, nhưng cứ có mặt bà ấy là sinh chuyện.


- Thế nào? Tại sao?


- Tại sao? Tại sao? Vì bà ấy buồn chán. Bà không phải nhà khảo cổ, chỉ là vợ nhà khảo cổ. Bà chẳng quan tâm những phát minh khoa học, do dó bà phải tự bày ra chuyện, làm cho mọi người phải kình địch nhau.


- Mary, mình không biết thì đừng nói. Chỉ tưởng tượng hão.


- Vâng, thì tôi tưởng tượng, nhưng rồi ông sẽ thấy tôi đúng. Không phải ngẫu nhiên người ta ví nàng Louise xinh đẹp với Mona Lisa. Có thể bà ta không ác ý, dù sao vẫn thích thú nhìn mọi người quẩn quanh bên mình như những con rối bị mình giật dây.


- Bà ấy rất yêu chồng.


- Ồ! Điều ấy khỏi nói. Không phải chuyện quan hệ lăng nhăng, nhưng nàng Louise xinh đẹp là chúa hay làm dáng.


- Ôi, đàn bà! Sao họ đối xử tử tế với nhau thế!


- Ông định nói giống lũ mèo cái cào cấu nhau chứ gì. Nhưng nên nhớ là chúng tôi đánh giá nhau không lầm đau.


Thiếu tá Pennyman trầm ngâm:


- Cứ cho những lời đoán định của bà Kelsey là đúng, cũng chưa đủ giải thích được bầu không khí thù nghịch ở đó. Tôi có cảm tưởng rõ rệt là dông tố sắp nổi lên đến nơi.


Bà Kelsey nói:


- Ta không nên làm cô Leatheran hoang mang. Ba ngày nữa cô đã đi Tell Yarimjah.


Tôi cười, đáp:


- Có thế nữa, tôi cũng không sợ.


Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ nhiều về những điều nghe được, nhất là câu nói kỳ lạ của giáo sư Leidner: “Bà ấy sẽ cảm thấy an toàn hơn” còn theo tôi mãi vào trong giấc ngủ. Những nỗi sợ hãi lạ lùng của bà Leidner liệu có ngấm ngầm ảnh hưởng đến những thành viên khác của đoàn? Hay là nỗi lo âu đè nặng lên đoàn đã ảnh hưởng đến hệ thần kinh của người phụ nữ ấy?


Tôi chỉ còn một cách là chờ đợi.

Dốc sinh tồn 5 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:28 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
CHƯƠNG 4




TỚI HASSANIEH






 Ba hôm sau, tôi rời Baghdad, rất tiếc phải chia tay cùng bà Kelsey và cháu bé. Thiếu tá Kelsey tiễn tôi ra ga. Sáng hôm sau tầu sẽ tới Kirkouk, ở đó sẽ có người đón tôi.


Tôi không bao giờ ngủ được trên tầu, đêm đó tôi chỉ chập chờn với bao ác mộng.


Tuy nhiên, sáng sớm hôm sau, nhìn qua cửa sổ toa tầu, thấy trời đẹp, tôi lại thấy trong người niềm háo hức sắp bước vào một môi trường mới.


Tôi đứng trên sân ga, rụt rè nhìn quan, và thấy một người tiến lại. Bộ mặt tròn múp míp, trông ông ta cứ như một nhân vật trong tiểu thuyết của P.G. Wodehouse.


- Chào cô! Có phải là cô Leatheran mà tôi được hân hạnh…? A! phải rồi. Ha! Ha! Tôi là Coleman. Giáo sư Leidner nhờ tôi đi đón. Cô đi đường mạnh khỏe chứ? Ôi, đi tầu thế này thì mệt nhọc rồi. Dù sao cũng đã tới. Cô ăn gì chưa? Hành lý cô đây à? Ôi, có thế này thôi ư? Không như bà Leidner, đi đâu thì phải một hòm và bốn vali, chưa kể hộp mũ và cái gối đặc biệt mang theo mình. Tôi nói nhiều quá có phải không? Thôi, ta ra xe.


Bên ngoài, một chiếc xe đang đợi. Người ta gọi nó là “xe của nhà ga”, chẳng ra xe khách, cũng chẳng là xe tải. Ông Coleman giúp tôi trèo lên, dặn ngồi cạnh lái xe cho đỡ xóc.


Đỡ xóc! Đến giờ tôi còn lấy làm lạ là sao xe không vỡ ra từng mảnh ở dọc đường, đầy ổ gà và rãnh sâu. Ôi! Phương Đông hằng mơ ước. Tôi bâng khuâng nhớ đến những quốc lộ phẳng lỳ ở nước Anh. Coleman ngả người về phía trước, hét vào tai tôi: “Đường không xấu lắm, phải không?” đúng lúc chúng tôi bị hất lên cao, suýt đụng đầu vào nóc xe. Vậy mà anh ta vẫn nói một cách nghiêm chỉnh nhất đời!


- Xóc như thế này làm cho gan thêm khỏe. Chắc cô biết thế?


- Vỡ đầu rồi thì còn cần gì gan? – tôi bực mình đáp.


- Nếu trời mưa, cô còn thấy nhiều hơn nữa.


Tôi không buồn trả lời.


Lát sau, chúng tôi phải qua sông trên một chiếc phà thô sơ đến cực kỳ. Thật lạ là cuối cùng cũng sang được bờ bên kia, và mọi người cho đó là chuyện tự nhiên.


Phải bốn giờ nữa chúng tôi mới tới Hassanieh. Ngạc nhiên làm sao, đó là một thành phố lớn, cảnh tượng rất đẹp. Từ chỗ chúng tôi nhìn thấy từ bên kia sông, nó hiện lên trắng toát, với vô số những ngọn tháp. Tuy nhiên khi qua cầu để vào thành phố, chúng tôi hơi vỡ mộng. Đâu đâu cũng là những ngôi nhà ọp ẹp, mùi hôi thối xông lên, toàn bùn và rác bẩn.


Coleman đưa tôi đến nhà bác sĩ Reilly. Anh ta nói bác sĩ đang đợi để cùng ăn trưa.


Bác sĩ niềm nở tiếp chúng tôi trong căn nhà sạch bong. Tôi tắm xong, bận trang phục y tá vào rồi xuống nhà, hoàn toàn hết mỏi mệt.


Bữa trưa đã dọn, bác sĩ mời chúng tôi sang phòng ăn, và xin lỗi vì cô con gái vẫn xuống muộn như thường lệ.


Chúng tôi ăn được một lát thì cô xuất hiện. Bác sĩ giới thiệu:


- Đây là cô Amy Leatheran. Còn đây là Shela, con gái tôi.


Cô bắt tay tôi, hỏi thăm chuyện đi đường, quẳng mũ lên ghế, lạnh lùng chào Coleman, rồi ngồi vào bàn.


- Thế nào, Bill? Tốt chứ?


Trong lúc Coleman trả lời, nói tin tức về những bạn bè của cả hai, tôi quan sát cô gái. Thú thật tôi tấy không có cảm tình lắm. Cô ta khá xinh, nhưng có cái vẻ khinh khỉnh, ăn nói thì bạt mạng. Tóc đen, mắt xanh, môi tô son đậm. Ở bệnh viện, tôi có một nhân viên giống cô ta: khả năng chuyên môn thì tốt, nhưng tác phong thì không thể mê.


Tôi đoán Coleman có vẻ say mê Sheila. Anh ta ấp a ấp úng, nói chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Trông anh ta như con chó ngao vẫy đuôi để nịnh chủ.


Sau bữa ăn, bác sĩ Reilly cáo biệt để đến bệnh viện. Coleman ra phố mua bán. Sheila hỏi tôi muốn ở nhà hay đi ra ngoài. Một giờ nữa Coleman mới đến đón tôi đi.


- Có gì đáng xem ngoài phố? - tôi hỏi.


- Một vài chỗ hay hay, nhưng không biết cô có thích không, vì nơi nào cũng bẩn.


Cuối cùng, cô đưa tôi đến câu lạc bộ của cô, ở đó sạch sẽ, nhìn ra cảnh đẹp, lại có báo chí từ Anh mới sang.


Chúng tôi về nhà thì Coleman vẫn chưa về. Trong khi chờ đợi, chúng tôi ngồi nói chuyện, song không khí giữa hai người không thỏa mái. Sheila hỏi tôi đã gặp bà Leidner chưa?


- Chưa, tôi chỉ mới gặp ông chồng – tôi đáp.


- Khi gặp, tôi rất tò mò muốn biết ý kiến cô ra sao.


Tôi im lặng. Cô nói tiếp:


- Tôi rất mến giáo sư Leidner. Ai cũng quý ông ấy.


Tôi nghĩ thầm trong bụng: nói cách khác, cô ghét bà vợ. Tôi thấy mình cứ im là hơn. Sheila lại hối hả hỏi:


- Bà ta bị cái gì nhỉ? Ông Leidner nói gì với cô không?


Chả lẽ lại nói xấu một người bệnh mình chưa giáp mặt, nên tôi trả lời chung chung:


- Hình như bà ấy bị suy nhược, nên cần có người chăm sóc.


Sheila bật lên tiếng cười hiểm ác:


- Trời đất quỷ thần ơi! Bà không có tới chín người chăm sóc rồi sao?


- Người nào có việc của người ấy!


- Có việc? Đành thế, nhưng bao giờ việc của bà Louise chả là quan trọng nhất… và bà ấy biết cách làm ra quan trọng.


Tôi lại nhủ thầm: “Đúng rồi, mày không ưa bà ta rồi”.


Sheila Reilly lại tiếp tục nói:


- Không hiểu sao bà ta lại cần một y tá chuyên nghiệp. Theo tôi, giá có một bà nào làm bầu bạn thì tốt hơn y tá chỉ có việc cặp nhiệt độ, bắt mạch để rồi kết luận là chẳng có bệnh tật gì.


Lần này, thì cô ta đã gợi trí tò mò của tôi:


- Vậy cô cho là bà không ốm đau?


- Không! Chẳng bệnh tật gì hết. Bà ta khỏe như bò. Chỉ rên la là giỏi. “Đêm qua không ngủ được”, “Ôi, mắt quầng thâm rồi”. Quầng thâm gì đâu, bà ấy bôi chì lên mắt! Tất cả cốt để mọi người chú ý, chạy nháo lên vì lo lắng.


Điều Sheila nói có phần dựa vào sự thật. Là y tá, tôi từng biết những người bệnh suốt ngày kêu ca, thích làm cho mọi người xung quanh phải chăm sóc, thương hại mình. Chợt có bác sĩ hay y tá nào nói: “Không có gì đâu, bà không đau gì hết”, họ không tin và phản ứng kịch liệt.


Bà Leidner hẳn thuộc loại bệnh tưởng này và ông chồng tất nhiên là người đầu tiên bị lừa. Tôi có nhận xét là các ông chồng nói chung đều rất cả tin, một khi liên quan đến sức khỏe của vợ. Tuy nhiên, lời lẽ của Sheila chưa thật ăn khớp với từ “an toàn” mà giáo sư Leidner nói, từ ấy vẫn lởn vởn trong óc tôi.


Tôi hỏi:


- Bà Leidner có phải là người nhút nhát, sợ hãi phải sống ở nơi xa lạ?


- Bà ấy sợ cái gì cơ chứ? Trong nhà có tới mười người thay phiên nhau canh gác để bảo vệ cổ vật. Ồ, không! Bà ta không nhút nhát…


Bỗng Sheila như chợt nẩy ra ý gì, ngừng bặt một lúc rồi mới nói:


- Câu hỏi vừa rồi làm tôi chợt nhớ…


- Nhớ cái gì?


- Thiếu úy phi công Jervis và tôi có đến đấy sáng hôm nọ. Mọi người đều đã ra làm việc ngoài hiện trường. Bà Leidner ngồi ở bàn, đang viết thư. Hẳn bà không nghe thấy chúng tôi đến, mà tên hầu thường dẫn khách lại đi đâu vắng, nên chúng tôi bước thẳng vào hiên. Bà ta nhìn thấy bóng thiếu úy Jarvis chiếu lên tường… thế là hét lên. Sau bà ấy xin lỗi mãi, nói tưởng có người lạ đột nhập. Kỳ quặc, có phải không? Là tôi muốn nói, dù là người lạ chăng nữa, việc gì phải hốt hoảng như vậy?


Tôi gật đầu đồng tình.


Sheila ngừng vài giây, rồi lại thao thao:


- Tôi không hiểu năm nay tại sao tất cả cứ như bị ma ám. Họ đều sợ sệt. Cô Johnson vẻ mặt cau có, không nói không rằng; David thì chỉ nói khi không thể đừng. Còn Bill Coleman, chàng này luôn miệng, trái ngược với người khác câm như hến. Carey thì cứ dè dặt như lúc nào cũng có bẫy rình rập. Và tất cả dò xét nhau cứ như… cứ như… tôi không biết nói thế nào, nhưng thật là kỳ cục.


Dù sao, có điều lạ là hai người khác nhau hoàn toàn như cô Sheila và thiếu tá Pennyman cùng có một cảm giác giống nhau.


Đúng lúc ấy, Bill Coleman chạy xổ vào.


- À! Tôi về đây rồi. Tôi đã hoàn thành mọi nhiệm vụ, có ai làm tốt hơn tôi, xin cứ cho biết! Cô Sheila đã dẫn cô Leatheran đi xem thành phố chưa?


- Rồi, nhưng cô ấy chẳng thích mấy - Sheila đáp.


- Không lấy làm lạ - Coleman cười - Chỗ nào cũng là di tích đổ nát.


- A! Ra anh không thích những công trình của thời cổ đại? Vậy tại sao anh lại ôm lấy cái nghề khảo cổ này?


- Đó là tại ông thày đỡ đầu của tôi. Ông ấy là bác học, là con mọt sách, cả ngày ru rú trong phòng đọc. Ông ấy không chịu được một trò như loại tôi!


- Để bị áp đặt cho mình một nghề mình không thích, thật dại dột - Sheila Reilly trách.


- Lầm rồi! Tôi không bị áp đặt. Ông thầy hỏi tôi thích nghề gì, tôi đáp không thích gì, thế là ông ta thu xếp cho tôi đến làm việc một mùa ở đây.


- Anh thực sự không biết mình muốn gì trên đời? Phải có mục đích chứ.


- Ồ! Tôi có mục đích này: bỏ hết mọi công việc, có nhiều tiền và đua xe ô tô.


- Vớ vẩn! - Sheila bực tức thốt lên.


- Tôi biết tham vọng của tôi là vô lý - Coleman vẫn cười - Nhưng nếu tôi buộc phải làm việc gì, bất cứ việc gì, thì miễn cho tôi phải suốt ngày ngồi trong buồng giấy. Với lại tôi thích du lịch các nơi. Tôi nói với ông thày: “Thôi được, tôi nhận”. Thế là tôi đến đây.


- Và chắc anh chỉ làm những việc vặt trong đoàn.


- Ấy, điều này thì cô lầm to. Không có ai lạy thánh Ala to hơn tôi mỗi lần người ta đào được vật gì. Hơn nữa, tôi không xoàng về vẽ. Ở trường, tôi chuyên bắt chước chữ mọi người. Lẽ ra tôi phải trở thành chuyên viên giả mạo cao cấp. Với lại, ai biết đâu về đường hậu vận. Ngày nào cô đứng chờ xe buýt mà thấy tôi lái xe Rolls-Royce phóng qua, ngày ấy cô sẽ biết là tôi đã thăng tiến trong nghề nghiệp.


Sheila nói lạnh nhạt:


- Anh nên thu xếp lên đường đi, nói linh tinh mãi.


- Được thôi! Ra ở đây hiếu khách như thế đấy, có phải không, cô Leatheran?


- Tôi chắc cô Leatheran đang mong mau tới nơi.


- Cô thì cái gì cũng chắc.


Đúng là như vậy. Cô gái này nói cái gì cũng chắc nịch.


- Anh Coleman, có lẽ ta nên đi thôi - tôi nói.


- Vâng, tôi đã sẵn sàng.


Tôi bắt tay Sheila, cảm ơn cô, rồi cùng Coleman lên đường.


- Con gái bác sĩ Reilly xinh đấy chứ, cô nhỉ. Phải cái hay trên chọc mọi người.


Ô tô đi qua thành phố rồi theo một con đường nhỏ giữa cánh đồng rau, đầy rãnh sâu, xóc nẩy người. Sau nửa tiếng, Coleman đưa tay chỉ một mô đất gần bờ sông, nói:


- Kia là Tell Yarimiah.


Tôi nhìn theo, thấy có những chấm đen chạy đi chạy lại như đàn kiến. Bỗng tất cả đều chạy xuống dốc. Coleman nói:


- Hết ca làm việc! Một giờ trước khi mặt trời lặn, là mọi việc đều ngừng.


Nhà ở cách xa sông một quãng. Xe ngoặt hình thước thợ, đi qua một cổng vòm hẹp: chúng tôi tới nơi.


Những tòa nhà vây quanh một sân rộng hình chữ nhật. Thoạt đầu, nhà chỉ có ở cạnh phía nam của sân, thêm mấy nhà phụ phía Đông. Đoàn khai quật tiếp tục xây thêm cả bốn phía. Trong quá trình kể chuyện, cách bố trí các phòng là rất quan trọng, do đó tôi thấy cần vẽ sơ đồ khu nhà của đoàn ở.


Tất cả các phòng đều có cửa và cửa sổ mở ra sân, trừ những phòng của tòa nhà phía Nam, những phòng này cũng có cửa sổ nhưng lại mở ra phía ngoài, nhìn ra cánh đồng, và đều có chấn song sắt. Ở góc Tây Nam, có một cầu thang để trèo lên sân thượng dài có lan can chạy suốt phần phía Nam.


Coleman dẫn tôi đi dọc cạnh sân phía Đông tới một cửa lớn ở chính giữa phần phía Nam tòa nhà. Anh ta đẩy cửa phía bên phải và chúng tôi vào một căn phòng ở đó nhiều người ngồi quanh một cái bàn.


- Chào cả nhà! Xin giới thiệu: Nàng Sarah Camp(1).


Người phụ nữ ngồi đầu bàn đứng dậy, đi về phía tôi.


Lần đầu tiên, tôi giáp mặt Louise Leidner.

Dốc sinh tồn 6 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:29 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
CHƯƠNG 5



TELL YARIMJAH





 Thú thật, khi thấy bà Leidner, tôi hết sức ngạc nhiên. Nghe nói mãi về bà ta, tôi hình dung ra hình dạng con người ấy, hẳn phải là một bà khó tính, lúc nào cũng quàu quạu. Tôi chờ gặp một người gọi là… là… hơi tầm thường.


Bà hoàn toàn không đáp ứng hình ảnh đó. Trước hết, đối diện với tôi là một phụ nữ tóc vàng đậm - chứ không tóc nâu như tôi tưởng, loại tóc vàng sang trọng, thanh cao của người Bắc Âu. Bà không phải là người Thụy Điển như ông chồng, song trông cứ như người cùng quốc tịch. Bà không còn trẻ lắm, tôi đồ chừng giữa ba mươi và bốn mươi, vài sợi tóc xám đã thấy lẫn trong mớ tóc vàng.


Đôi mắt mở to, hơi quầng thâm, lại ngả sang tím, ít thấy ở những người khác. Bộ dạng mong manh, mảnh dẻ, có vẻ mệt mỏi đồng thời vẫn toát ra nghị lực, điều này là mâu thuẫn, song đó đúng là cảm giác của tôi lúc bấy giờ. Tôi cũng tin rằng đây là một phụ nữ quý phái đến tận chân tơ kẽ tóc, thời nay rất hiếm.


Bà cười cười, đưa tay cho bắt. Tiếng nói trầm và êm ái, hơi pha giọng Mỹ:


- Rất vui được gặp cô. Uống trà nhé? Hay cô muốn xem phòng ở trước?


Tôi đồng ý uống trà, và bà lần lượt giới thiệu mọi người:


- Đây là cô Johnson và ông Reiter, bà Mercado, ông Emmott, cha Lavigny. Chồng tôi lát nữa sẽ về. Mời cô ngồi giữa cha Lavigny và cô Johnson.


Tôi làm theo. Cô Johnson hỏi thăm chuyện đi đường.


Tôi có cảm tình ngay với cô này. Cô làm tôi nhớ đến một nữ y tá trưởng mà tôi đã cùng làm việc, rất hợp với nhau.


Cô Johnson cũng phải gần năm mươi, cử chỉ làm ra đàn ông. Tóc xám cắt ngắn, giọng nói dễ nghe. Cô có cái mũi hếch, mỗi khi gặp điều gì trái ý hoặc bực dọc lại đưa tay sờ mũi. Sau này tôi biết cô là người Anh, quê ở York.


Với cha Lavigny, tôi hơi ngài ngại. Người cao lớn, râu đen dài, mắt đeo kính kẹp mũi. Bà Kelsey kể ở Tell Yarimjah có một thầy tu người Pháp, đúng là cha Lavigny, ông mặc áo tu sĩ. Tôi lấy làm lạ, vì cứ tưởng tu sĩ ở trong tu viện, không được ra ngoài.


Phần lớn thời gian, bà Leidner nói với ông bằng tiếng Pháp, nhưng ông nói với tôi bằng tiếng Anh khá chuẩn. Đôi mắt sắc hau háu hết nhìn người này sang người khác.


Ngồi trước mặt tôi có ba người còn lại. Ông Reiter to béo, đeo kính, tóc dài và xoăn, mắt tròn. Xưa chắc ông là đứa bé kháu khỉnh, nay thì chẳng còn dấu tích. Nói thật ra, ông ta trông giống con heo. Một người khác trẻ hơn, mặt dài, tóc cắt ngắn, có hàm răng đẹp và cười rất tươi. Nhưng anh chàng ít nói, chỉ trả lời bằng cử chỉ hoặc bằng tiếng một. Cũng giống như ông Reiter, anh ta là người Mỹ. Rồi đến bà Mercado. Tôi không nhìn kỹ bà ta: mỗi lần tôi nhìn về phía bà, bà lại nhìn tôi vẻ thách thức, thật bất lịch sự!


Bà ta còn rất trẻ, chắc chưa qua hăm nhăm. Trông cũng đẹp, nhưng, như mẹ tôi thường nói, “sơn phết hơi nhiều”. Bà mặc chiếc áo len đỏ tươi, và móng tay được đánh cùng màu. Bà ta như một con chim luôn mở mắt e ngại, nhếch mép nghi ngờ.


Bữa ăn ngon lành, đủ các món; trà cũng ngon, khác hẳn thứ chè tàu của bà Kelsey chát đắng. Ông Emmott luôn săn đón, tiếp cho tôi đủ thứ mỗi lần đĩa của tôi sắp hết.


Coleman đã ngồi vào chỗ đối diện với cô Johnson và vẫn nói luôn mồm. Bà Leidner thở một hơi dài, liếc mắt về phía anh ta, anh ta cũng không im, mặc dù bà Mercado, người mà anh ta đang nói, còn mải quan sát tôi, không buồn trả lời.


Cuối bữa, giáo sư Leidner và ông Mercado mới từ hiện trường trở về. Giáo sư lịch sự đến chào tôi. Tôi để ý thấy ông lo lắng nhìn về phía vợ và tỏ ra yên tâm thấy nét mặt vợ bình thường. Giáo sư lại ngồi ở đầu bên kia bàn, còn ông Mercado ngồi vào chỗ trống cạnh bà Leidner. Đó là một người cao, gầy, nước da xanh tái, nhiều tuổi hơn hẳn bà vợ. Có ông về, bà Mercado lập tức khỏi chú ý đến tôi nữa, mà tập trung vào ông ta, quan sát ông ta với vẻ bồn chồn kỳ lạ. Ông Mercado khuấy tách trà, vẻ mơ màng, chiếc bánh ngọt vẫn đặt nguyên trên đĩa.


Quanh bàn còn một chỗ chưa có người ngồi. Chẳng bao lâu, cửa mở một người bước vào.


Mắt tôi vừa ngước lên nhìn Richard Carey, tôi có cảm giác thấy ngay đây là mẫu người đàn ông rất đẹp, chưa từng thấy… vậy mà tôi cứ tự hỏi mình có bị ảo giác gì không. Khẳng định có một người đàn ông đẹp, rồi lại nói ông ta có cái đầu như người chết thì thật là mâu thuẫn. Có thể nói không ngoa, da mặt ông căng cứng trên sọ, nhưng là một cái sọ có đường nét rất mỹ thuật. Trong bộ mặt nâu như đồng hun ấy, lấp lánh hai con mắt xanh đậm. Ông ta cao khoảng sáu piê(1) , và xấp xỉ tứ tuần.


- Cô Leatheran, tôi xin giới thiệu ông Carey, kiến trúc sư của chúng tôi - ông Leidner nói.


Carey lí nhí vài lời nhỏ nhẹ rồi đến ngồi cạnh bà Mercado. Bà Leidner mời mọi người uống trà:


- Sợ trà hơi nguội rồi đó, ông Carey ạ.


- Bà khỏi lo. Lỗi tại tôi về muộn. Tôi còn cố vẽ nốt sơ đồ những bức tường đó cho xong.


- Ông Carey, mời ông dùng mứt? – Bà Mercado hỏi.


Ông Reiter đẩy đĩa rôti.


Thế là trong óc tôi lởn vởn lời nhận xét của ông Pennyman: “Tôi nói thế này có lẽ đúng hơn cả, là họ đối xử với nhau kiểu cách thế nào”.


Đúng, những thái độ lịch sự quá đáng, che giấu một cái gì là lạ bên trong. Cứ như đây là cuộc họp của những kẻ xa lạ, chứ không phải là kẻ xa lạ, chứ không phải là những người - ít nhất là một số người trong đó - đã từng cùng làm việc với nhau nhiều năm.


Chú thích:

(1) Mỗi pi-ê chừng 30cm

Dốc sinh tồn 7 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:30 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
Chương 6

TỐI ĐẦU TIÊN




 Dùng trà xong, bà Leidner đưa tôi về phòng. Tôi thấy cần mô tả cách bố trí các phòng, thực ra rất đơn giản, như các bạn sẽ thấy trong bản vẽ sau.

Enlarge this image Click to see fullsize



Ở hai bên hàng hiên đều có cửa. Cửa bên phải đi vào phòng ăn, nơi chúng tôi vừa uống trà; cửa kia, ngay đối diện, vào một phòng y hệt, mà tôi gọi là phòng chung, vừa để họp, vừa tiếp khách. Đây cũng là nơi để vẽ, chắp dán những mảnh gốm rời rạc thu được. Phòng chung này thông với phòng lưu giữ cổ vật, đặt trên giá, ngăn, hoặc bàn ghế. Phòng này không có cửa nào khác ngoài cửa ra phòng chung.

Phòng áp cạnh là buồng ngủ của bà Leidner, có cửa từ sân đi vào. Giống như tất cả các phòng ở phía Nam, phòng này có hai cửa sổ có chấn song nhìn ra bên ngoài.

Nối theo phòng bà Leidner, ở cạnh phía Đông của khu nhà, là phòng ông Leidner, không có cửa trực tiếp thông sang phòng vợ. Rồi đến phòng dành cho tôi, phòng cô Johnson và các phòng của ông và bà Mercado, tiếp theo là hai cái gọi là buồng tắm.

Một hôm tôi gọi là buồng tắm trước mặt bác sĩ Reilly, ông bật cười nói rằng phòng tắm là phòng tắm, còn không phải là không phải! Quả thật khi đã dùng quen vòi nước và ống nước hiện đại, mà chỉ là hai cái xó lầy lội, mỗi xó có một cái ống sắt tây, nước đục ngầu phải xách từ bên ngoài vào, mà gọi là phòng tắm, thì cũng lạ.

Dãy nhà phía Đông này được ông Leidner cho xây thêm về sau. Các phòng ngủ đều giống nhau, có một cửa và cửa sổ mở ra sân.

Phần phía Bắc gồm phòng vẽ của kiến trúc sư, phòng thí nghiệm, xưởng ảnh và buồng tối.

Phía bên này hiên, các phòng được bố trí gần giống phía bên kia.

Từ phòng ăn ta bước vào văn phòng, nơi lữu trữ hồ sơ, biểu đồ và đánh máy chữ. Phòng của cha cha Lavigny đối xứng với phòng bà Leidner, cha được dành một phòng rộng hơn, vừa làm chỗ ngủ, vừa làm nơi đọc các bia và văn bản cổ.

Ở góc này có một thang gác trèo lên sân thượng. Phía Tây có nhà bếp, rồi đến bốn phòng nhỏ của bốn người: Carey, Emmott, Reiter và Coleman.

Ở góc phía Tây, xưởng ảnh và buồng tối thông nhau, rồi đến phòng thí nghiệm.

Ở chính giữa mặt phía Bắc, mở ra lối vào duy nhất; có một cổng vòm lớn mà chúng tôi đã qua. Phía bên ngoài, ta nhìn thấy khu nhà ở của người phục vụ bản xứ, trạm gác có lính canh và chuồng ngựa. Bên phải lối vào, phòng vẽ của kiến trúc sư chiếm một phần lớn của mặt Bắc.

Tôi đã mô tả hơi tỷ mỉ sơ đồ khu nhà để sau này khỏi phải nói lại nữa.

Như đã nói, bà Leidner đích thân dẫn tôi đi thăm các nơi rồi đưa về phòng riêng, bà hy vọng nó sẽ có đủ tiện nghi cần thiết.

Đồ đạc gồm: giường, tủ đứng, một bàn soi gương và một ghế bành, tuy đơn sơ nhưng dáng vẻ dễ chịu.

- Trước mỗi bữa ăn, người phục vụ sẽ mang nước nóng đến cho cô… Và tất nhiên, cả mỗi sáng sớm. Còn lúc nào khác mà cô cần, cô cứ ra sân, vỗ tay, thấy tên bồi đến, cô nói: “Jim mai har”. Cô nhớ được chứ?

Tôi gật đầu và ngắc ngứ lại câu nói.

- Tốt. Nhưng phải hét thật to. Nói giọng bình thường, dân Arập không chịu hiểu đâu.

Bà Leidner ngó qua xô nước, chậu rửa mặt, bánh xà phòng, nói:

- Ở đây, mong rằng không bao giờ cô buồn chán.

- Cuộc đời ngắn ngủi, tôi không bao giờ thấy chán – tôi đáp.

Không nói gì, bà tiếp tục lơ đãng mó máy các vật trên bàn rửa mặt.

Đột nhiên, bà chăm chăm nhìn tôi bằng đôi mắt tím thẫm:

- Nhà tôi đã nói gì với cô rồi?

Trong nghề của tôi, với những câu hỏi loại này, chỉ có một cách trả lời. Tôi đáp một cách thản nhiên:

- Theo tôi hiểu, bà mắc chứng suy nhược nhẹ, và cần có người làm bạn với bà, giúp bà tránh mọi ưu phiền.

Bà trầm ngâm nghiêng đầu:

- Quả thật, có cô tôi cảm thấy nhẹ nhõm.

Câu nói đó có phần khó hiểu, song tôi chưa muốn đi sâu.

- Tôi mong bà sẽ chỉ cho tôi những việc cần làm trong nhà này, đừng để tôi phải nhàn cư.

- Cảm ơn cô y tá.

Rồi bà ngồi lên giường và đặt ra rất nhiều câu hỏi, làm tôi rất ngạc nhiên. Tôi nhấn mạnh “rất ngạc nhiên”, vì ngay từ phút đầu nhìn bà, tôi đã thấy bà là một phu nhân cao sang. Mà theo tôi, người cao sang thường tránh không hỏi chuyện riêng tư của người khác.

Nhưng bà Leidner lại muốn biết rất nhiều chi tiết về tôi: tôi đã học ở đâu, học bao lâu, tại sao lại đến Trung Đông, tại sao bác sĩ Reilly giới thiệu tôi với chồng bà. Tôi đã sang Mỹ bao giờ chưa, ở đó có gia đình không. Bà còn hỏi tôi hai ba câu khác lúc đó tôi cho là vô nghĩa, sau này mới hiểu hết ý nghĩa.

Đột nhiên, bà thay đổi thái độ, mặt tươi lên, cười rạng rỡ. Bằng giọng nhẹ nhàng, bà khẳng định rất mừng là tôi đã đến, có tôi bà phấn khởi lên nhiều. Rồi bà đứng dậy, nói thêm:

- Cô có muốn lên sân thượng ngắm mặt trời lặn? Giờ này cảnh hoàng hôn rất đẹp.

Tôi đồng ý. Lúc ra khỏi phòng, bà hỏi:

- Trên tầu đi Baghdad, có nhiều hành khách không?

Tôi đáp không để ý thấy ai đặc biệt, trừ hai người Pháp gặp ở toa ăn và một nhóm ba đàn ông, nghe họ nói chuyện với nhau thì biết họ làm ngành dầu mỏ.

Bà gật đầu, thở dài nhẹ nhõm.

Chúng tôi cùng đi lên sân thượng.

Bà Mercado đã có mặt ở đó, ngồi trên lan can, và giáo sư Leidner đang cúi xuống ngắm nghía những viên đá, những mảnh gốm mới đào. Có cả đống những hòn đá lớn mà ông gọi là cối, chày, rìu và vật dụng khác. Bà Mercado gọi:

- Các vị hãy lên đây! Nhìn xem có đẹp tuyệt không?

Quả là đẹp. Xa xa là thành phố Hassanieh, mặt trời lặn phía sau tạo ra một cảnh thần tiên, và sông Tigre chảy giữa hai bờ rộng rãi như một dòng nước trong mơ.

- Đẹp quá nhỉ, phải không anh Eric? - Bà Leidner nói.

Giáo sư ngẩng đầu, mắt nhìn ra cõi xa xăm, lẩm bẩm một cách ơ thờ: “Phải, đẹp, đẹp”, rồi lại chúi đầu vào đống cổ vật.

Bà Leidner cười:

- Dân khảo cổ chỉ nghĩ đến những gì có dưới chân họ. Với họ coi như không có trời.

Bà Mercado cười gằn:

- Ồ! Họ sẽ là những người kỳ quặc. Cô Leatheran ạ, rồi cô sẽ thấy - Ngừng một lát, bà ta nói tiếp - Chúng tôi rất mừng là cô đã đến. Chúng tôi đều lo lắng về tình trạng sức khỏe của bà Leidner!

- Đâu đến nỗi vậy! - bà Leidner kêu lên, vẻ không vui.

- Có! Cô y tá ơi, bà ốm thật đấy, và đôi lần làm chúng tôi sợ chết khiếp. Có người bảo: “Ồ! Đó chỉ là vấn đề thần kinh!” Vâng, thế thần kinh mà không quan trọng à, phải không cô?

Bà Leidner đáp bằng giọng sẵng:

- Từ giờ các người không phải lo cho tôi nữa. Đã có cô y tá đến đây rồi.

- Vâng, tôi sẽ xin hết sức - Tôi vội vã đáp.

- Tôi tin là sẽ có kết quả tích cực - Bà Mercado tiếp tục - Tất cả chúng tôi đều khuyên bà nên đi khám bác sĩ, hoặc phải làm một cái gì đó. Hệ thần kinh bà bị suy yếu nghiêm trọng, có phải không nào, bà Louise?

- Vâng, suy yếu đến mức làm các người bực mình - Bà Leidner nói - Thôi ta nói sang chuyện khác, đừng nhắc đến bệnh tật của tôi nữa.

Lúc này tôi nhận thấy bà Leidner thuộc loại phụ nữ rất dễ gây ác cảm. Giọng của bà ngạo mạn, lạnh lùng - tôi rất thông cảm với bà - khiến đối má bà Mercado nóng đỏ lên. Bà ta nói lại vài lời lí nhí, nhưng bà Leidner đã đứng lên đi ra chỗ chồng ở đứng đầu kia sân thượng. Chắc ông không nghe tiếng bà đi tới, vì khi bà đặt tay lên vai ông, ông quay ngoắt lại như giật mình, dò hỏi.

Bà Leidner gật đầu ra hiệu, rồi nắm cánh tay ông đưa ra cầu thang, và cả hai cùng đi xuống.

- Ông ta rất chiều vợ, cô thấy không? – bà Mercado nói.

- Đúng - tôi đáp - như thế là tốt.

Bà nhìn tôi như cật vấn, nói nhỏ:

- Theo cô thì bà ấy đau gì?

- Ồ! Không nghiêm trọng… có vẻ như suy nhược thần kinh nhẹ.

Bà Mercado vẫn nhìn xoáy vào tôi:

- Cô chuyên chăm sóc những người bệnh thần kinh?

- Không? Tại sao bà hỏi vậy?

Sau một lát, bà lại hỏi:

- Cô không biết bà này bất bình thường đến mức nào ư? Giáo sư Leidner chưa nói gì với cô?

Tôi chúa ghét chuyện ngồi lê đôi mách liên quan đến bệnh nhân. Mặt khác, qua kinh nghiệm, tôi biết rất khó moi sự thật từ miệng những người thân, và chừng nào chưa nắm được nguyên nhân căn bệnh, thì không thể điều trị hiệu quả. Tất nhiên nếu thày thuốc theo sát bệnh nhân thì khác. Ông ta sẽ cho những chỉ dẫn cần thiết. Song nay không có nhà chuyên môn nào theo dõi bà Leidner. Bác sĩ Reilly không được chính thức trao trách nhiệm, và không có gì đảm bảo là giáo sư Leidner đã nói hết với tôi sự thật về tình hình sức khỏe của vợ. Thông thường các ông chồng tỏ ra kín đáo trong trường hợp này, và như vậy là đúng. Tuy nhiên, nếu có thông tin đầy đủ, tôi sẽ giúp được người bệnh tốt hơn. Bà Mercado, vốn có cái lưỡi ác độc, lại nóng lòng muốn nói. Phần tôi, xét cả về mặt con người và chuyên môn, tôi cũng muốn nghe xem bà ta nói gì. Vậy xin hãy thứ lỗi cho tôi, nếu tôi tỏ ra tò mò.

Tôi nói:

- Nghe nói thời gian gần đây bà Leidner không bình thường lắm?

- Bình thường? - Bà Leidner cười gằn - A! không. Bà làm chúng tôi chết khiếp vì sợ. Một đêm bà nghe có tiếng gõ cửa sổ, và nhìn thấy một bàn tay mà không có cánh tay. Lần khác, bà nói thấy một khuôn mặt vàng ệch áp vào cửa kính phòng bà, đến lúc bà chạy ra thì không thấy gì hết. Bảo thế thì ai mà chẳng khiếp?

- Hay là có ai tinh nghịch?

- Không. Chẳng qua là do bà tưởng tượng hết! Đây này, cách đây ba hôm, vào giờ ăn trưa, bọn trẻ trong làng, cách đây tới một cây số, đốt pháo chơi. Thế là bà ta chồm lên khỏi ghế, kêu ầm lên như con điên. Ông Leidner vội chạy ra ôm lấy dỗ dành, đến là buồn cười. Theo tôi, làm thế chỉ càng khuyến khích bà ta thích lên cơn điên loạn. Không nên khoan dung với những loại ảo giác ấy.

- Tất nhiên, nếu đó chỉ là ảo giác.

- Thế cô cho nó là cái gì?

Không thể nói gì hơn, tôi đành im lặng. Những chuyện về bà Mercado kể làm tôi suy nghĩ nhiều. Bỏ qua câu chuyện kêu hét khi tiếng pháo, tôi chú ý đến khuôn mặt và bàn tay ma quái. Chỉ có hai cách giải thích: một là bà Leidner có tình bịa ra như một đứa trẻ thích nói rối để làm ra bộ quan trọng, hai là, như tôi đã nghĩ, chỉ là một trò đùa tàn ác, loại đùa mà một anh chàng ba hoa như Coleman có thể tiến hành. Tôi quyết định phải theo dõi chặt anh ta. Cứ đùa quái ác như thế, có thể dẫn đến một người từ chỗ yếu thần kinh đi đến điên thật sự.

Bà Mercado lại hỏi:

- Cô có thấy bà ta có những bộ điệu rất lãng mạn không? Đàn bà loại ấy rất lắm chuyện…

- Bà ấy có lắm chuyện thật ư?

- Ông chồng đầu tiên chết trong chiến tranh lúc bà mới hai mươi tuổi. Phải chăng là một bước mở đầu thống thiết không nào?

- Ta không nên gán chuyện này vào chuyện nọ - Tôi sẵng giọng.

- Ồ! Cô nhận xét kỳ lạ quá.

- Lạ kỳ, nhưng đúng.

Trời đã tối, tôi đề nghị đi xuống. Bà Mercado đồng ý và mời tôi vào thăm phòng thí nghiệm.

- Chồng tôi đang làm việc trong đó - bà nói.

Chúng tôi vào một phòng có đèn sáng, nhưng chẳng có ai. Bà Mercado chỉ tôi xem những dụng cụ dùng để kiểm tra các đồ uống bằng phản ứng hóa học, rồi những khúc hài cốt được phủ một lớp sáp.

- Quái, ông Joseph nhà tôi đi đâu nhỉ? - bà Mercado thốt lên.

Bà liếc nhìn sang phòng vẽ, Carey đang làm việc ở đó. Chúng tôi bước vào, ông ta chẳng buồn ngẩng mặt lên, và tôi để ý thấy nét mặt ông ta vô cùng mệt mỏi. Một ý nghĩ nẩy trong óc tôi: “Ông này kiệt sức rồi, không thể làm thế này mãi”. Và tôi nhớ một người khác đã nói ra một ý nghĩ giống tôi.

Lúc ra đi, tôi quay đầu lại để nhìn ông ta lần nữa. Ông ta mắm môi, cúi đầu trên trang giấy, trông hệt một “đầu người chết”, toàn những xương. Có thể chỉ là tôi tưởng tượng, nhưng ông có dáng dấp một hiệp sĩ thời xưa đi ra chiến trận và biết chắc mình sẽ tử nạn.

Hóa ra ông Mercado đang ở trong phòng chung. Ông đang giảng giải cho bà Leidner một phương pháp khoa học mới, bà này ngồi ghế vừa nghe vừa thêu hoa trên lụa. Lần nữa tôi lại ngạc nhiên vì vẻ mong manh, thanh khiết của bà. Cứ như nhân vật trong truyện thần tiên, không phải người bằng xương bằng thịt.

Bà Mercado cất tiếng the thé:

- A! Anh Joseph đây rồi. Bọn này cứ tưởng anh ở trong phòng thí nghiệm.

Ông Mercado giật mình, luống cuống, đường như bà vợ vào phá tan cảnh êm đềm. Ông ấp úng:

- Tôi… tôi phải đi. Tôi đang nói đến chỗ… đến chỗ…

Ông không nói hết câu, đi ra cửa. Bà Leidner nói với theo, giọng nhẹ nhàng, hơi kéo dài:

- Lần khác ông sẽ kể nốt. Hay quá.

Bà nhìn chúng tôi, cười hiền hậu nhưng lảng tránh, và lại cúi xuống thêu.

Một lát sau, bà nói:

- Cô ý tá này, ở kia có nhiều sách hay, cô chọn lấy một cuốn rồi ngồi xuống đây.

Tôi lại giá sách, bà Mercado còn đận đà một lát, rồi bỗng quay ngoắt, đi ra. Lúc bà đi qua mặt tôi, tôi nhận thấy nét mặt bà giận dữ, trông thật đáng ghét.

Bất giác, tôi nhớ lại một số chi tiết mà bà Kelsey nói về bà Leidner. Tôi không thật quan tâm lắm, vì khi tiếp xúc thấy rất có cảm tình với bà Leidner; tuy nhiên, tôi phân vân tự hỏi những chuyện ấy có phần nào sự thật.

Tất nhiên không thể trách cứ bà Leidner, song rõ ràng là cả cô Johnson xấu xí với bà Mercado lắm lời và cực kỳ tầm thường, đều không thể sánh được với bà về mặt quyến rũ. Mà đàn ông thì ở phương trời nào, vẫn là đàn ông.

Ông Mercado không có vẻ gì là người đi chinh phục trái tim phụ nữ, và tôi chắc bà Leidner chẳng để ý gì đến những cử chỉ quan tâm của ông, nhưng bà Mercado lại thấy khó chịu. Tôi nghĩ bà ta quá bi kịch hóa chuyện ấy và rất có thể bày trò hù họa bà Leidner cho bõ tức.

Bà Leidner đang ngồi thêu đó, dáng cao sang, có vẻ không để ý gì những chuyện vặt vãnh. Tôi quan sát bà, nghĩ có nên báo để bà phòng ngừa hay không. Có thể bà không hề biết lòng ghen tuông có thể dẫn đến bạo lực và căm thù, và sự ghen tuông nhiều khi bắt nguồn từ những cái nhỏ nhặt.

Song tôi tự nhủ: “Amy Leatheran ơi, mi là một con ngốc! Bà ta đâu còn trẻ con, đã bốn mươi rồi, ắt có đủ kinh nghiệm chuyện đời”.

Nghĩ thế thôi, nhưng tôi vẫn nghi ngờ. Bà có vẻ trong trắng quá!

Bà ta đã trải đời như thế nào? Tôi biết bà lấy ông Leidner cách đây hai năm và, theo bà Mercado, người chồng trước của bà chết đã hai mươi năm.

Tôi cầm sách ngồi cạnh bà, rồi một lúc sau đi rửa tay chuẩn bị ăn trưa. Bữa ăn rất ngon, nhất là món ca-ri thì không chê vào đâu được. Mọi người tản đi sớm, tôi mừng quá vì đã rất mệt.

Giáo sư Leidner đưa tôi về tận phòng, hỏi xem tôi cần gì không. Ông nhiệt tình bắt tay tôi, hồ hởi:

- Nhà tôi rất quý cô. Tôi rất mừng. Có cảm tưởng, từ giờ mọi việc sẽ tốt đẹp.

Sự phấn khởi của ông có một vẻ gì hơi trẻ con.

Phần tôi, tôi cũng cảm thấy như ông Leidner nói: bà ấy thích tôi, và tôi lấy đó làm vui.

Giường êm, nệm ấm, nhưng tôi không ngủ được. Suốt đêm, tôi bị ám ảnh bởi những giấc mộng.

Dốc sinh tồn 8 Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie- Agatha Christie on Fri Jun 21, 2013 11:31 am


avatar


Đẹp trai có gì sai? =))
Đẹp trai có gì sai? =))

Medal:

.
Pet:
Tammy
Huy Hiệu
Chương 7


NGƯỜI NHÒM QUA CỬA SỔ






 Tôi không hiểu gì về môn khảo cổ, và thú thật là dửng dưng với ngành khoa học này. Theo tôi nghĩ, đi khuấy động giấc ngủ yên của những người và những thành phố đã mất từ bao thế kỷ nay thì thật là vớ vẩn. Cho nên ông Carey nói không sai khi chê tôi là người không có tính khí của một nhà khảo cổ.


Ngay buổi sáng đầu tiên sau hôm tôi tới, ông Carey đề nghị tôi đến thăm cái lâu đài... mà ông đang phục chế sơ đồ. Làm sao ông vẽ lại được một ngôi nhà đã thành tro bụi từ lâu, đó là điều tôi không thể hiểu. Tôi nhận lời, thực ra chỉ vì tò mò. Hình như lâu đài này có từ ba nghìn năm trước. Ở cái thời xa xưa ấy mà cũng có lâu đài? Nhưng, bạn có tin được không, rút cục tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ là những ụ bùn lớn. Những bức tường đắp bằng bùn cao sáu mươi phân, là toàn bộ những gì còn lại của lâu đài.


Ông Carey dẫn tôi đi khắp các xó xỉnh, giải thích: đây là sân rồng; kia là các phòng; xa hơn là cầu thang lên lầu. Ở đó cũng có nhiều phòng nữa. Và tôi phân vân tự hỏi: "Làm sao ông ta biết được?". Nhưng vì phép lịch sự, tôi không hỏi. Thật là thất vọng! Bao nhiêu công lao đào bới mà trước mắt tôi chỉ mênh mang là bùn. Chẳng có lấy một viên đá quí, vàng bạc, hay một vật gì đẹp mắt. Nhà của bà dì tôi ở Crickdewood có khi còn để lại những di vật quí hơn!


Ông Carey cho xem xong cái "lâu đài cổ" của ông, liền giao tôi cho cha Lavigny dẫn đi các nơi còn lại. Tôi hơi sờ sợ cái ông cha này, vì là tu sĩ, lại người nước ngoài, tiếng nói ồm ồm. Tuy nhiên ông ta tỏ ra nhã nhặn, tử tế, song những lời thuyết minh của ông hơi mơ hồ. Đến mức tôi không hiểu ông ta có mê say gì cái môn khảo cổ học hơn tôi không!


Sau này bà Leidner cho tôi biết lý do: cha Lavigny chuyên về đọc "thư tịch". Người xưa khắc chữ trên đất sét, và chữ đây là hình tượng, phải người có chuyên môn mới hiểu. Có cả thư tịch là bài vở nhà trường, một bên là bài thầy giáo ra, một bên là đáp án của học sinh. Tôi thấy nghiên cứu những thứ này có vẻ thú vị, mang đậm chất nhân văn.


Cha Lavigny đưa tôi đi khắp hiện trường, chỉ cho xem chỗ nào là đền thờ, lâu đài, chỗ nào là nhà riêng, và có cả di tích một nghĩa địa cổ. Thỉnh thoảng nói xong, cha xoay sang chuyện khác:


- Việc cô đến đây làm tôi không khỏi ngần ngại. Phải chăng tình hình sức khỏe bà Leidner đã thật sự trầm trọng?


- Không có gì lắm đâu - tôi thận trọng, đáp chung chung.


- Bà ta là một người kỳ quặc, theo tôi nguy hiểm nữa!


- Cha nói gì? Nguy hiểm? Về mặt nào?


Ông thong thả lắc đầu:


- Một phụ nữ tai ác, không tim.


- Xin lỗi cha. Cha nghĩ nhầm về tôi rồi.


Ông lại lắc đầu, đáp:


- Biết ngay là cô không hiểu phụ nữ bằng tôi.


Suy nghĩ đó phát ra từ miệng một thầy tu không khỏi làm tôi ngạc nhiên. Có thể ông đã biết nhiều chuyện kín trên đời qua lời xưng tội của con chiên, song tôi cho rằng không phải thầy tu nào cũng được phép nghe lời xưng tội, mà quyền ấy chỉ được giao cho những giáo sĩ nhất định.


- Bà này rất nhẫn tâm, không thương sót ai. Tôi khẳng định thế. Vậy mà, mặc dù có trái tim rắn như đá, bà ta lại luôn sợ hãi. Bà sợ cái gì?


Tôi nghĩ bụng: "Điều đó, thì ai cũng muốn biết!"


Người khác không biết, nhưng chắc chồng bà thì phải biết.


Cha Lavigny bỗng nhìn thẳng vào mắt tôi:


- Cô không thấy bầu không khí ở đây là kỳ quặc sao? Hay cô cho là tự nhiên?


- Không hoàn toàn tự nhiên. Về mặt vật chất, không có vấn đề gì, song cảm thấy có sự ngượng ngập thế nào.


- Còn tôi ấy à, tôi không thoải mái tí nào. Cứ có cảm giác như sắp xẩy ra chuyện gì bất thường. Ngay giáo sư Leidner cũng ngồi đứng không yên. Ông ấy rộc người đi vì lo lắng.


- Lo sức khỏe của vợ?


- Có thể. Nhưng không phải chỉ thế. Có cái gì bất ổn lơ lửng trên không.


Ông ta nói đúng: chỗ nào cũng có sự lo âu.


Câu chuyện mới đến đấy, vì giáo sư Leidner đã tới. Ông chỉ tôi xem một ngôi mộ trẻ con vừa mới phát hiện: những mẩu xương vụn, một hai cái bình, và những hột nhỏ mà theo giáo sư là những gì còn lại của một chuỗi hạt.


Nhìn những thợ đào đất, tôi cũng thấy vui mắt. Chưa bao giờ tôi trông thấy nhiều người đến thế, như những con rối, vì họ đều mặc quần rộng lùng thùng, đầu trùm vải kín mít như người đau răng. Họ chuyển những sọt đất, vừa chạy đi chạy lại vừa cất tiếng hát, nếu cái điệu ê a kéo dài đó gọi là bài hát. Mắt người nào người nấy đều dữ tợn vì bám đầy bụi, một vài người trông như mù.


Một lát, giáo sư Leidner nói phải về để uống trà trước bữa ăn trưa. Tôi về cùng ông, và trên đường đi, ông kể rất nhiều chuyện. Nghe lời ông giải thích, tôi nhìn mọi thứ với con mắt khác hẳn, hình dung ra nào là phố xá, nào là nhà cửa thời xưa ở đây thế nào. Ông chỉ tôi xem những lò nướng bánh cổ, và cho biết, người Ả rập ngày nay vẫn dùng lò như thế!


Về tới nhà, chúng tôi thấy bà Leidner đã dậy. Trông bà có vẻ khỏe, tươi tỉnh hơn. Trà được bưng lên, và giáo sư Leidner kể cho vợ nghe những gì đã đào bới được trong sáng hôm đó, rồi ông đi tiếp tục làm việc. Bà Leidner rủ tôi ra xem những vật mới đào được. Chúng tôi đi vào phòng lưu trữ cổ vật. Tứ phía ngổn ngang những đồ tạp nham, phần lớn là mảnh vỡ, một số được chắp dán lại. Cứ như ý tôi, những đồ này chỉ đáng vứt vào sọt rác.


- Ôi trời! Tiếc rằng toàn là mảnh vụn! Thế thì giữ làm gì?


Bà Leidner mỉm cười, nói:


- Cô chớ bao giờ nói thế trước mặt ông Eric nhà tôi! Ông ấy quí chúng hơn cả mọi thứ trên đời và một số vật này có tới bẩy nghìn năm tuổi đấy.


Bà nói một số đồ phải đào rất sâu mới thấy. Cách đây hàng ngàn năm, nhiều thứ bị vỡ và được dán lại bằng nhựa, chứng tỏ thời ấy người ta cũng rất quý của cải của họ như ta ngày nay.


- Và bây giờ - bà nói tiếp - cô hãy xem cái này.


Bà lấy một cái hộp ở trên giá, mở ra một con dao găm bằng vàng rất đẹp, cán được nạm nhiều viên đá quý.


Tôi cất lên một tiếng suýt soa.


Bà Leidner bật cười:


- Ai cũng thích vàng, trừ ông chồng tôi!


- Tại sao?


- Tại vì, có vàng thì ông ấy rất tốn tiền. Thợ nào đào được, phải trả họ đúng giá tiền số vàng.


- Ôi! Sao lại thế?


- Đó là thông lệ. Như thế, để tránh khỏi bị thợ lấy mất. Họ lấy không phải vì giá trị khảo cổ mà vì giá trị của vàng. Lấy rồi, họ đúc nó ra, phí của. Trả tiền họ, thì họ nộp đầy đủ.


Bà lấy một cái mâm, đưa tôi ngắm một cái bình bằng vàng xung quanh gắn những hình đầu bò mộng.


Một lần nữa, tôi lại suýt soa thán phục.


- Cô thấy có đẹp không? Báu vật này là từ trong mộ một ông hoàng. Đoàn đã phát hiện nhiều mộ vương giả khác, nhưng báu vật trong đó đã bị cướp sạch. Bình này là cái đẹp nhất. Độc nhất vô nhị trên thế giới.


Bỗng bà Leidner chau mày, đưa bình lên tận mắt nhìn kỹ, lấy ngón tay gãi nhẹ.


- Ồ, lạ chưa! Có một vết sáp. Có người nào đó đã cầm nến đến đây.


Bà gẩy bỏ mảnh sáp ra, để bình vào chỗ cũ.


Rồi bà giới thiệu những tượng nhỏ bằng đất nung, phần lớn tạc hình những người lõa lồ. Người xưa mà cũng dâm đãng gớm.


Nhìn ra ngoài hiên, chúng tôi trông thấy bà Mercado, đang ngồi đánh móng tay. Giơ bàn tay thẳng trước mặt, bà ngắm nghía nước sơn óng ánh. Riêng tôi chúa ghét cái màu đỏ da cam ấy.


Bà Leidner lấy một cái liễn bị vỡ làm nhiều mảnh, mang ra để dán lại. Tôi nhìn bà làm một lúc rồi cũng giúp bà một tay.


- Tốt quá! Còn rất nhiều thứ phải dán lại.


Bà lấy ra một lô đồ vỡ, chúng tôi cùng ngồi làm. Tôi quen tay ngay, nên được bà khen.


- Phải rồi, y tá phải khéo tay thế mới đúng.


- Cả nhà bận bịu quá nhỉ - bà Mercado kêu - Còn tôi hình như chẳng được việc gì.


- Bà thích ngồi không thì cứ việc - Bà Leidner thủng thỉnh nói.


Mọi người vào ăn trưa, ăn xong, giáo sư Leidner và bà Mercado dùng axít cạo sạch một số cổ vật. Nhờ thế mà chiếc lọ hiện nguyên hình với màu tươi rói, cùng những hoa văn đẹp, cứ như có phép màu.


Các ông Carey và Coleman trở ra hiện trường, còn ông Reiter đi vào phòng ảnh. Giáo sư Leidner hỏi vợ:


- Mình định làm gì bây giờ? Đi nằm một chút nhé?


Bà Leidner có thói quen nghỉ trưa sau khi ăn.


- Em sẽ nằm nghỉ một tiếng. Sau đó sẽ đi dạo.


- Tốt. Vậy cô Leatherean sẽ đi cùng nhé.


- Xin rất vui lòng - tôi vội đáp.


- Không, không, cảm ơn. Tôi thích đi một mình. Tôi không muốn cô ý tá lúc nào cũng phải theo tôi từng bước.


- Bà đừng nghĩ rằng tôi ngại đi…


- Thật tình, tôi thích đi dạo chơi một mình - bà Leidner nhấn mạnh một cách kiên quyết - Đôi lúc cũng phải ở một mình, thậm chí còn là cần thiết.


Tôi không cãi nữa. Tuy nhiên, trên đường về phòng riêng, tôi lấy làm lạ là bà Leidner, vốn luôn hoảng sợ vu vơ, lại thích đi chơi một mình, không ai bảo vệ.


Vào lúc ba giờ rưỡi chiều, tôi từ trong phòng đi ra, thấy một đứa trẻ đang lau rửa các đồ gốm trong chiếc chậu đồng. Ông Emmott ngồi cạnh, đỡ lấy từng cái. Tôi vừa đi về phía họ, thì bà Leidner trở về qua cái cổng vòm, dáng bộ nhanh nhẹn, đôi mắt long lanh. Bà có vẻ hoàn toàn vui vẻ thư thái.
Giáo sư Liedner từ phòng thí nghiệm đi ra, tiến về phía vợ và đưa bà xem một chiếc mâm to trang trí hình sừng bò:
- Các lớp đất tiền sử rất giàu cổ vật, hứa hẹn một mùa bội thu. Ngay từ đầu đã phát hiện ra ngôi mộ đó, là điềm tốt. Chỉ cha Lavigny là ế ẩm. Đến giờ chưa đào được thư tịch nào.
- Nhưng những bản đã đưa cho ông ta, ông ta đã khai thác gì đâu - bà Leidner sẵng giọng - Ông ta có thể là một nhà nghiên cứu thư tịch lỗi lạc, song theo tôi ông ta đồng thời là một kẻ đại lãn. Chiều nào cũng ngủ khì.
Giáo sư Leidner thở dài:
- Tiếc là không có ông Byrd. Lão thầy tu này ró vẻ không chính thống lắm, dù tôi không am hiểu về chuyên ngành này. Một, hai bản dịch của ông ta, tôi xem thấy lạ, không biết có chính xác không. Dù sao, đó là trách nhiệm của ông ta.
Sau bữa trà buổi chiều, bà Leidner hỏi tôi có muốn đi chơi ra phía sông không. Có lẽ bà e ngại việc không để tôi cùng đi lúc trước đó làm tôi phật ý chăng.
Để chứng tỏ tôi không hề để tâm việc ấy, tôi hăm hở nhận lời.
Buổi chiều trời đẹp. Chúng tôi đi qua những cánh đồng lúa, những vườn cây nở hoa, tới bờ sông Tigre. Ngay phía bên trái, nhìn thấy công trường khai quật với cơ man là thợ, họ vẫn ê a điệu hát trầm buồn. Phía bên phải, là một guồng nước cao, to vừa quay vừa phát ra tiếng cót két thoạt đầu gây khó chịu, nhưng nghe mãi cũng quen tai. Phía xa sau guồng nước, là xóm làng nơi phần lớn thợ đấu cư trú.
- Cảnh cũng đẹp đấy chứ, phải không cô y tá? - bà Leidner hỏi.
- Vâng, thật êm ả. Không ngờ ta đang ở xa mọi thứ.
- Xa hẳn mọi thứ... - bà Leidner lặp lại - Thật vậy, ở đây ít nhất cũng cảm thấy an toàn tuyệt đối.
Tôi đưa mắt nhìn bà thật nhanh, song có lẽ bà vẫn nói một mình, không hề hay biết là vừa diễn tả ý nghĩ nẩy trong đầu óc.
Chúng tôi thong thả quay về nhà.
Đột nhiên, bà Leidner túm chặt tay tôi, làm tôi suýt kêu lên vì đau.
- Ai kia, cô? Hắn đang làm gì kìa?
Một người đang đứng trước chúng tôi một quãng, ở chỗ con đường ngoặt vào nhà. Hắn mặc âu phục, và đang kiễng chân, cố nhòm vào trong một cửa sổ.
Rồi hắn đảo mắt nhìn quanh, trông thấy chúng tôi và bước đi về phía công trường. Ngón tay bà Leidner níu chặt lấy cánh tay tôi, bà kêu khẽ:
- Cô y tá, cô y tá!
- Bà cứ yên tâm, không có gì đâu - tôi an ủi.
Người nọ tiếp tục đi qua mặt chúng tôi. Đó là một người dân Irắc. Nhìn hắn đi qua, bà Leidner thở phào:
- Ồ! Chỉ là người bản xứ.
Chúng tôi tiếp tục đi. Vừa đi, tôi vừa liếc nhìn các cửa sổ. Không những có chấn song, cửa đều xây ở độ cao khiến rất khó nhòm vào: thật vậy, mặt đất ở chỗ này thấp hơn mặt sân bên trong.
- Chắc chỉ là một kẻ tò mò - tôi nói.
Bà Leidner gật đầu đồng ý:
- Thế mà lúc đó tôi đã ngờ...
Bà ngừng bặt.
Tôi nghĩ bụng: "Bà ngờ cái gì? Lạ thật. Bà có thể ngờ vực chuyện gì vậy?"
Dù sao, đã có một điều chắc chắn: bà sợ một con người nào đó, bằng xương, bằng thịt.





Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết